Nợ xấu và xử lý nợ xấu theo quy định của pháp luật
Nợ xấu (Non-Performing Loan – NPL) là các khoản nợ khó đòi khi người vay không thể trả nợ khi đến hạn phải thanh toán như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Cụ thể, nếu quá thời gian quá hạn thanh toán trên 90 ngày thì bị coi là nợ xấu.
Căn cứ khoản 8 Điều 3 Thông tư 11/2021/TT-NHNN, nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 trong hệ thống phân loại nợ.
Thông thường, các khoản nợ quá hạn từ 90 ngày trở lên sẽ bị xếp vào nhóm nợ xấu. Khi phát sinh nợ xấu, thông tin của khách hàng sẽ được ghi nhận trên hệ thống Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC), ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng vay vốn và uy tín tín dụng trong tương lai.

Hiện nay, các khoản nợ được phân loại thành 5 nhóm căn cứ vào mức độ rủi ro và khả năng thu hồi. Theo phân loại của CIC, nợ xấu bao gồm các khoản vay thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Trong khi nhóm 1 và 2 dù có phát sinh quá hạn trong thời gian ngắn nhưng chưa được xếp vào nợ xấu.
Dưới đây là chi tiết các nhóm nợ xấu mà mọi người cần chú ý:
- Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:
+ Khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày (Trừ khoản nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn);
+ Khoản nợ gia hạn nợ lần đầu còn trong hạn (Trừ khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phân loại lại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1), khoản nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn);
+ Khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo thỏa thuận (Trừ khoản nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn);
+ Khoản nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây chưa thu hồi được trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi:
+ Khoản nợ trong thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra;
+ Khoản nợ phải thu hồi theo quyết định thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng vi phạm thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa thu hồi được trong thời gian dưới 30 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
+ Khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN;
+ Khoản nợ phải phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Thông tư 11/2021/TT-NHNN.
- Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
+ Khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày (Trừ khoản nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn);
+ Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn đến 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu (Trừ khoản nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn);
+ Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai còn trong hạn (Trừ khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phân loại lại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1), khoản nợ được phân loại vào nhóm nợ có rủi ro cao hơn);
+ Khoản nợ quy định tại điểm c(iv) khoản 1 Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN chưa thu hồi được trong thời gian từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
+ Khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra đến 60 ngày mà chưa thu hồi được;
+ Khoản nợ phải thu hồi theo quyết định thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng vi phạm thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa thu hồi được trong thời gian từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
+ Khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN;
+ Khoản nợ phải phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Thông tư 11/2021/TT-NHNN.
- Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
+ Khoản nợ quá hạn trên 360 ngày;
+ Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 91 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;
+ Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;
+ Khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên (Trừ khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phân loại lại vào nhóm nợ có rủi ro thấp hơn (kể cả nhóm 1));
+ Khoản nợ quy định tại điểm c(iv) khoản 1 Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN chưa thu hồi được trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
+ Khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra trên 60 ngày mà chưa thu hồi được;
+ Khoản nợ phải thu hồi theo quyết định thu hồi nợ trước hạn của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng vi phạm thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa thu hồi được trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi;
+ Khoản nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng đang được kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đang bị phong tỏa vốn và tài sản;
+ Khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 3 Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN;
+ Khoản nợ phải phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Thông tư 11/2021/TT-NHNN.
(Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN)
Lưu ý: Trong một số trường hợp đặc biệt, khoản nợ có thể được điều chỉnh lên hoặc xuống nhóm nợ tùy theo tình trạng thực tế và đánh giá của tổ chức tín dụng.
- Hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng tiêu dùng: Khách hàng có lịch sử nợ xấu (từ nhóm 3 trở lên) thường gặp khó khăn khi vay vốn, mở thẻ tín dụng hoặc sử dụng các sản phẩm tín dụng khác.
- Ảnh hưởng đến các lần vay tiếp theo: Thông tin nợ xấu được ghi nhận trên hệ thống CIC có thể làm giảm điểm tín dụng, tác động đến khả năng được phê duyệt vay trong tương lai, kể cả khi khoản nợ đã tất toán.
- Ảnh hưởng đến kế hoạch tài chính cá nhân: Việc phát sinh nợ xấu làm giảm sự linh hoạt dòng tiền, gây gián đoạn các kế hoạch tài chính ngắn hạn và dài hạn.
Xử lý nợ quá hạn, nợ xấu là một trong những nghiệp vụ của Ngân hàng. Về quy trình xử lý thì đó là quy trình nghiệp vụ của mỗi ngân hàng, quy định pháp luật không điều chỉnh. Việc làm như thế nào là do ngân hàng quyết định, dựa trên nghiệp vụ của ngân hàng đó và các quy định có liên quan. Tuy nhiên các hoạt động xử lý nợ vẫn theo nguyên tắc và quy định của pháp luật. Thông thường, quy trình xử lý nợ quá hạn của ngân hàng sẽ được thực hiện dựa trên nguồn cơ sở pháp lý:
– Quy định chung của Ngân hàng nhà nước về việc xử lý nợ quá hạn.
– Quy định riêng tại Điều lệ, Thoả thuận cho vay và Hợp đồng bảo đảm tiền vay của từng Ngân hàng.
Nguồn cơ sở pháp lý được xây dựng theo quy định của pháp luật tại Bộ luật Dân sự 2015 và Thông tư 11/201/TT-NHNN. Điển hình trong xử lý nợ ngân hàng có các quy định:
Điều 299 Bộ luật Dân sự 2015 quy định các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm:
– Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
– Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.
– Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.
Điều 303 Bộ luật Dân sự 2015 quy định hương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp:
– Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau đây: Bán đấu giá tài sản. Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản. Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm. Phương thức khác.
– Trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều này thì tài sản được bán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác.
Điều 304 Bộ luật Dân sự 2015 quy định việc bán tài sản cầm cố, thế chấp:
– Việc bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.
– Việc tự bán tài sản cầm cố, thế chấp của bên nhận bảo đảm được thực hiện theo quy định về bán tài sản trong Bộ luật này.
Ngoài ra nếu mọi người không may rơi vào nhóm nợ xấu thì cũng có thể tự chủ động thực hiện các bước sau để khôi phục uy tín tín dụng:
- Xác minh thông tin nợ xấu: Tra cứu lịch sử tín dụng cá nhân qua Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia (CIC) hoặc liên hệ ngân hàng để xác nhận nguyên nhân, nhóm nợ và tình trạng hiện tại
- Thanh toán đầy đủ dư nợ quá hạn: Ưu tiên hoàn tất các khoản nợ gốc và lãi đang quá hạn để ngừng phát sinh lãi phạt, giúp cải thiện lịch sử tín dụng
- Theo dõi thời gian lưu giữ thông tin: Sau khi tất toán, thông tin nợ xấu sẽ tiếp tục được ghi nhận trên CIC trong vòng 1 - 5 năm; trong thời gian này, nên hạn chế phát sinh thêm khoản vay mới và duy trì kỷ luật tài chính
- Chủ động xây dựng lại lịch sử tín dụng tích cực: Duy trì các khoản vay đúng hạn, không để phát sinh nợ quá hạn hoặc thẻ tín dụng quá giới hạn, từ đó cải thiện dần điểm tín dụng trong hệ thống
Cụ thể tại khoản 1 Điều 11 Thông tư 03/2013/TT-NHNN quy định thông tin tiêu cực về khách hàng vay chỉ được sử dụng để tạo lập sản phẩm thông tin tín dụng trong thời gian tối đa 05 năm, kể từ ngày kết thúc thông tin tiêu cực đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Như vậy, căn cứ theo các quy định nêu trên thì thông tin nợ xấu liên quan đến tín dụng chỉ được sử dụng trong khoảng thời gian tối đa là 05 năm sau khi đã giải quyết xong các khoản nợ xấu này. Sau 05 năm, khách hàng có thể được tiếp tục vay vốn như đối với các trường hợp đi vay thông thường.
Công ty Luật Thuận Đức – Luôn sẵn lòng hỗ trợ bạn trong mọi vấn đề pháp lý!
-------------------------
Văn phòng làm việc: Số 1, ngõ 43, phố Kim Đồng, phường Tương Mai, thành phố Hà Nội
Hotline: 0966.846.783
Email: congtyluatthuanduc@gmail.com
Website: http://luatthuanduc.vn
Facebook: https://www.facebook.com/profile.php?id=100094722411349