Đứng tên hộ trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có rủi ro gì?
Trong thực tế, không ít trường hợp một người nhờ người thân, bạn bè hoặc người quen đứng tên hộ trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ). Việc này thường xuất phát từ nhiều lý do như chưa đủ điều kiện nhận chuyển nhượng, muốn thuận tiện trong giao dịch, tránh phát sinh nghĩa vụ tài chính hoặc vì tin tưởng lẫn nhau.
Tuy nhiên, việc đứng tên hộ tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý và có thể dẫn đến những tranh chấp phức tạp nếu các bên không có thỏa thuận rõ ràng. Vậy pháp luật quy định như thế nào? Người đứng tên hộ và người nhờ đứng tên có thể gặp những rủi ro gì?
Hiện nay, pháp luật đất đai không có quy định riêng về việc “đứng tên hộ” trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nói cách khác, đây không phải là một cơ chế pháp lý được pháp luật thừa nhận để xác lập quyền sử dụng đất cho người nhờ đứng tên, nhưng cũng không thể hiểu đơn giản là pháp luật “cấm tuyệt đối” mọi trường hợp có tên người khác trên Giấy chứng nhận. Vấn đề cốt lõi là phải xác định ai là người có quyền sử dụng đất hợp pháp và ai là người được Nhà nước ghi nhận quyền đó.
Cần lưu ý rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Đây là giấy tờ pháp lý đặc biệt quan trọng, có giá trị chứng minh quyền sử dụng đất trong các giao dịch, thủ tục hành chính và khi giải quyết tranh chấp. Vì vậy, người đứng tên trên Giấy chứng nhận thường được mặc nhiên xem là chủ thể có quyền đối với thửa đất, trừ trường hợp có tài liệu, chứng cứ hoặc phán quyết của cơ quan có thẩm quyền chứng minh điều ngược lại.
Do đó, nếu các bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói hoặc giấy viết tay về việc nhờ đứng tên mà không có căn cứ pháp lý rõ ràng thì khi phát sinh tranh chấp, việc chứng minh quyền lợi sẽ rất khó khăn.

Công ty Luật Thuận Đức - Tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, dịch vụ pháp lý khác. Liên hệ hotline: 0966.846.783
Có thể mất quyền đối với thửa đất
Đây là rủi ro lớn nhất và cũng là rủi ro dễ xảy ra nhất trong thực tế. Khi Giấy chứng nhận đứng tên người khác, về mặt pháp lý người nhờ đứng tên không phải là người được Nhà nước ghi nhận quyền sử dụng đất. Nói cách khác, dù thực tế có thể chính mình bỏ tiền mua đất, trả tiền xây nhà hoặc trực tiếp quản lý, sử dụng thửa đất, nhưng trên giấy tờ pháp lý, quyền đối với đất vẫn thuộc về người đứng tên.
Rủi ro này thường bộc lộ rõ khi các bên phát sinh mâu thuẫn. Ví dụ, một người vì lao động bên nước ngoài muốn mua đất mà không thể về Việt Nam mua nên đã gửi tiền về nhờ anh trai mua và đứng tên hộ . Ban đầu mọi việc diễn ra bình thường, nhưng sau một thời gian, người anh trai không đồng ý ký giấy chuyển lại đất hoặc cho rằng thửa đất là tài sản của mình. Khi đó, người nhờ đứng tên sẽ rơi vào thế rất bất lợi vì phải tự chứng minh rằng mình mới là người bỏ tiền mua đất, hoặc giữa hai bên thực sự có thỏa thuận nhờ đứng tên ngay từ đầu.
Trong nhiều trường hợp, nếu không có hợp đồng rõ ràng, không có chứng từ chuyển tiền, không có tin nhắn, email hay tài liệu thể hiện việc nhờ đứng tên, việc đòi lại đất sẽ rất khó khăn. Thậm chí, nếu người đứng tên đã đem đất đi thế chấp, chuyển nhượng cho người khác hoặc để lại cho người thừa kế, tranh chấp sẽ càng phức tạp hơn và có thể kéo dài nhiều năm.
Khó thực hiện các giao dịch
Người nhờ đứng tên không thể tự mình thực hiện các giao dịch như:
Lý do là vì về mặt pháp lý, người được ghi tên trên Giấy chứng nhận mới là người đang được Nhà nước thừa nhận là người có quyền sử dụng đất. Do đó, cơ quan đăng ký đất đai, ngân hàng hoặc bên nhận giao dịch thường chỉ chấp nhận làm việc với người đứng tên trên Giấy chứng nhận. Nếu người này không ký kết, không đồng ý hoặc không có văn bản ủy quyền hợp lệ thì người nhờ đứng tên gần như không thể tự mình định đoạt thửa đất. Vì vậy, mọi giao dịch đều phải do người đứng tên trên Giấy chứng nhận thực hiện hoặc đồng ý thực hiện.
Khó chứng minh quyền sở hữu thực tế
Trong nhiều vụ án, người nhờ đứng tên thường chỉ có giấy viết tay, tin nhắn trao đổi, lời khai của các bên hoặc một số chứng cứ gián tiếp mà không có đầy đủ tài liệu chứng minh việc mình là người bỏ tiền mua đất, nguồn gốc hình thành tài sản, quá trình giao nhận tiền hay nội dung thỏa thuận nhờ đứng tên. Có trường hợp việc thanh toán được thực hiện bằng tiền mặt, không có biên nhận, không có sao kê ngân hàng, hoặc các giấy tờ liên quan đã bị thất lạc theo thời gian. Khi đó, dù trên thực tế người nhờ đứng tên mới là người bỏ chi phí để nhận chuyển nhượng, việc chứng minh điều này trước cơ quan giải quyết tranh chấp vẫn rất khó khăn.
Điều này khiến việc bảo vệ quyền lợi trước Tòa án gặp nhiều khó khăn, bởi Tòa án thường phải xem xét trên cơ sở chứng cứ hợp pháp, rõ ràng và có giá trị chứng minh. Nếu không chứng minh được mối liên hệ giữa số tiền đã bỏ ra với thửa đất đang tranh chấp, hoặc không làm rõ được thỏa thuận giữa các bên về việc nhờ đứng tên, yêu cầu đòi lại quyền sử dụng đất có thể không được chấp nhận. Trong thực tiễn, chỉ một lời trình bày của đương sự thường chưa đủ để làm căn cứ xác định quyền sử dụng đất thuộc về người nhờ đứng tên.
Để hạn chế tranh chấp, các bên nên:
Công ty Luật Thuận Đức – Luôn sẵn lòng hỗ trợ bạn trong mọi vấn đề pháp lý!
-------------------------
Văn phòng làm việc: Số 1, ngõ 43, phố Kim Đồng, phường Tương Mai, thành phố Hà Nội
Hotline: 0966.846.783
Email: congtyluatthuanduc@gmail.com
Website: http://luatthuanduc.vn
Facebook: https://www.facebook.com/profile.php?id=100094722411349