Lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua dịch vụ xin việc, du học, visa: Dấu hiệu nhận biết và cách tố giác
Trong những năm gần đây, cùng với nhu cầu đi du học, lao động, định cư và xin việc ở nước ngoài ngày càng tăng, các dịch vụ tư vấn visa, du học và xuất khẩu lao động cũng phát triển mạnh. Bên cạnh nhiều doanh nghiệp hoạt động hợp pháp, không ít cá nhân, tổ chức đã lợi dụng tâm lý mong muốn nhanh chóng được cấp visa hoặc tìm được việc làm của người dân để thực hiện các hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản.
Thực tế cho thấy, nhiều người đã chuyển cho các đơn vị tư vấn từ vài chục triệu đến hàng tỷ đồng theo các gói dịch vụ "bao đậu visa", "cam kết định cư", "đảm bảo có việc làm" hoặc "hoàn tiền nếu không thành công". Tuy nhiên, sau khi nhận tiền, một số đơn vị liên tục trì hoãn thời gian xử lý hồ sơ, yêu cầu khách hàng nộp thêm các khoản phí không có trong hợp đồng, thậm chí cắt đứt liên lạc hoặc giải thể doanh nghiệp để trốn tránh trách nhiệm. Điều này khiến nhiều người băn khoăn liệu hành vi đó có phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay chỉ là tranh chấp hợp đồng dịch vụ.
Theo quy định của Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được xác định khi người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để làm cho người khác tin tưởng và tự nguyện giao tài sản, sau đó chiếm đoạt tài sản đó.
Như vậy, dấu hiệu quan trọng nhất của tội danh này là hành vi gian dối phải xuất hiện trước hoặc đồng thời với việc nhận tài sản. Nếu ngay từ đầu, người nhận tiền đã không có khả năng hoặc không có ý định thực hiện dịch vụ nhưng vẫn đưa ra các thông tin sai sự thật nhằm tạo lòng tin cho khách hàng thì hành vi đó có thể bị xem xét về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Trong lĩnh vực dịch vụ xin việc, du học hoặc làm visa, hành vi gian dối có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức như tự nhận có quan hệ với cơ quan cấp visa, làm giả giấy phép hoạt động, giả mạo hợp đồng hợp tác với doanh nghiệp nước ngoài, cung cấp thông tin không có thật về các chương trình định cư hoặc cam kết chắc chắn được cấp visa mặc dù biết rõ việc cấp visa thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài.
Bên cạnh đó, nếu sau khi nhận tiền, người nhận dịch vụ nhanh chóng cắt đứt liên lạc, bỏ trốn, giải thể doanh nghiệp nhằm trốn tránh nghĩa vụ hoặc sử dụng số tiền đã nhận vào mục đích cá nhân mà không thực hiện bất kỳ công việc nào theo thỏa thuận thì đây cũng là những tình tiết cần được cơ quan điều tra xem xét khi đánh giá dấu hiệu của tội phạm.

Công ty Luật Thuận Đức - Tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, dịch vụ pháp lý khác. Liên hệ hotline: 0966.846.783
Trên thực tế, không phải cứ khách hàng nộp tiền nhưng không được cấp visa hoặc không đi được nước ngoài thì đều có thể kết luận đã xảy ra tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Việc được cấp visa hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện của người xin visa, chính sách nhập cư của từng quốc gia và quyết định của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài. Do đó, nếu doanh nghiệp đã tiếp nhận hồ sơ, thực hiện các công việc theo hợp đồng, thường xuyên trao đổi với khách hàng, cung cấp chứng từ chứng minh quá trình xử lý hồ sơ và việc không đạt được kết quả xuất phát từ nguyên nhân khách quan thì quan hệ giữa các bên có thể chỉ là tranh chấp hợp đồng dịch vụ dân sự.
Trong trường hợp này, khách hàng có quyền yêu cầu doanh nghiệp thực hiện đúng hợp đồng, hoàn trả tiền theo thỏa thuận hoặc khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Việc giải quyết sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự thay vì xử lý bằng thủ tục hình sự.
Để hạn chế rủi ro, người dân cần đặc biệt thận trọng khi lựa chọn đơn vị cung cấp dịch vụ xin việc, du học hoặc visa. Một số dấu hiệu dưới đây có thể là cảnh báo về nguy cơ xảy ra hành vi gian dối:
Thứ nhất, đơn vị quảng cáo hoặc cam kết chắc chắn được cấp visa, có việc làm hoặc được định cư với tỷ lệ thành công tuyệt đối. Trên thực tế, không một doanh nghiệp nào có quyền quyết định việc cấp visa thay cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
Thứ hai, yêu cầu khách hàng chuyển toàn bộ số tiền hoặc một khoản tiền rất lớn ngay từ đầu nhưng không ký kết hợp đồng hoặc hợp đồng chỉ quy định rất sơ sài về quyền và nghĩa vụ của các bên.
Thứ ba, yêu cầu chuyển tiền vào tài khoản cá nhân thay vì tài khoản của doanh nghiệp hoặc không xuất phiếu thu, hóa đơn, chứng từ hợp lệ.
Thứ tư, liên tục yêu cầu khách hàng nộp thêm nhiều khoản phí phát sinh nhưng không có căn cứ trong hợp đồng hoặc không giải thích rõ lý do phát sinh các khoản phí này.
Thứ năm, sau khi nhận tiền thì thường xuyên trì hoãn tiến độ xử lý hồ sơ, thay đổi người phụ trách, né tránh việc cung cấp thông tin hoặc không trả lời các yêu cầu của khách hàng.
Mặc dù các dấu hiệu nêu trên chưa đủ để khẳng định đã xảy ra tội phạm, nhưng đây là những yếu tố mà người dân cần cân nhắc và chủ động xác minh trước khi tiếp tục giao dịch.
Khi nghi ngờ quyền lợi của mình bị xâm phạm, việc thu thập và lưu giữ chứng cứ là yếu tố đặc biệt quan trọng. Người dân nên lưu giữ đầy đủ hợp đồng dịch vụ, phụ lục hợp đồng, phiếu thu, hóa đơn, chứng từ chuyển khoản, sao kê ngân hàng, nội dung trao đổi qua email, tin nhắn, ghi âm cuộc gọi (nếu có), hình ảnh quảng cáo, nội dung trên website hoặc mạng xã hội của đơn vị cung cấp dịch vụ.
Nếu phát hiện còn có nhiều người khác cùng bị thiệt hại với phương thức tương tự thì cũng nên thu thập thông tin, bởi đây có thể là căn cứ để cơ quan có thẩm quyền đánh giá toàn diện tính chất, mức độ của vụ việc.
Khi có căn cứ cho rằng hành vi của cá nhân hoặc tổ chức có dấu hiệu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người bị hại có thể làm đơn tố giác tội phạm gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát hoặc Công an cấp xã nơi phát hiện vụ việc theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trong đơn tố giác cần trình bày rõ diễn biến sự việc, thời gian, địa điểm, số tiền đã giao, phương thức giao dịch, nội dung cam kết của bên cung cấp dịch vụ và những dấu hiệu cho thấy có hành vi gian dối. Đồng thời, người tố giác nên gửi kèm toàn bộ tài liệu, chứng cứ đã thu thập được để cơ quan có thẩm quyền xem xét, xác minh.
Sau khi tiếp nhận tố giác, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh và quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật.
Công ty Luật Thuận Đức – Luôn sẵn lòng hỗ trợ bạn trong mọi vấn đề pháp lý!
-------------------------
Văn phòng làm việc: Số 1, ngõ 43, phố Kim Đồng, phường Tương Mai, thành phố Hà Nội
Hotline: 0966.846.783
Email: congtyluatthuanduc@gmail.com
Website: http://luatthuanduc.vn
Facebook: https://www.facebook.com/profile.php?id=100094722411349